Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Một số món ăn thuốc từ dền cơm

Dền cơm (Amaranthus viridis L.) thuộc họ rau dền (Amaranthaceae). Là loại cỏ nhỏ, cao tới 80cm, đứng hay nằm ở gốc thường có một nhánh to, cong, thân lớn đến 5mm, không lông, không gai. Phiến lá xoan tròn dài, có lúc hình bánh bò, dài 3 - 6cm, rộng 1,5 - 3cm, đầu tù, có lúc lõm, không lông; cuống dài đến 10cm. Chùy hoa tại ngọn hay bông ở nách lá; hoa có 3 lá đài, 3 nhị, 2 - 3 đầu nhụy. Quả bế nhăn, chứa 1 hạt nâu đen, bóng, to 1mm. Cây mọc tại đất hoang, dọc đường đi và cũng được trồng lấy lá làm rau. Có thể thu hái quanh năm, rửa sạch, cắt đoạn phơi khô dùng dần. Dền cơm giàu dược tính nên được dùng làm thuốc. Bộ phận làm thuốc là rễ và toàn cây (Radix et Herba Amaranthi Viridis).

Cây dền cơm.

Theo Đông y, dền cơm có vị ngọt nhạt, tính mát hơi hàn, tác dụng thanh nhiệt lợi thấp, lương huyết, chỉ huyết... có tác dụng thanh nhiệt khu thấp, thu liễm, chỉ tả. Thường sử dụng chữa chứng nóng nhiệt, táo bón, trị lỵ trực trùng và viêm trường vị cấp và mạn tính, đau họng, đau mắt đỏ, chảy máu cam. Ngày dùng 40 - 80g, sắc nước uống. Dùng ngoài lấy rễ tươi giã nát, lấy nước chiết uống và sử dụng bã đắp. Ở Ấn Độ, người ta sử dụng lá làm thuốc trị bọ cạp đốt và sử dụng toàn cây trị rắn cắn. Hạt dền cơm vị ngọt, tính lạnh, tác dụng mát gan, trị phong nhiệt, chữa mắt kém.

Dưới đây là một số cách trị bệnh từ dền cơm.

Chữa đau đầu chóng mặt, tăng huyết áp do can hỏa vượng: rau dền cơm 100g, rau đay 50g, thịt cua đồng 50g, nêm gia vị nấu canh ăn.

Chữa mắt kém người nóng: hạt dền cơm 12g, thảo quyết minh 12g, hoa mào gà 12g, sắc uống nhiều ngày.

Chữa đau mắt: hạt dền cơm và hạt thảo quyết minh liều lượng bằng nhau đều 10g. Sắc nước uống. Chữa mắt đau có màng mộng.

Làm mát gan thanh nhiệt kích thích tiêu hoá: dền cơm 100g, rau dệu 50g, rau đay 50g, nấu canh tôm hay canh cua.

Trị lỵ lúc mới mắc: rau dền cơm nấu với nước, uống ngày sử dụng 4 lần; ngày thứ 2 dùng liều 1 nửa cũng dùng 4 lần.

Chữa táo bón do nhiệt: rau dền cơm 100g, tôm tươi bóc vỏ 30g hoặc tôm nõn khô nấu canh, thêm gia vị ăn thường xuyên.

BS. Hoàng Xuân Đại

Cây sen làm thuốc

Cây sen được trồng phổ biến ở nhiều làng quê Việt Nam, là loại cây vừa làm cảnh, làm thực phẩm và làm thuốc. Các bộ phận của cây sen từ rễ, thân, lá, hoa, hạt… đều có tác dụng chữa bệnh.

Hạt sen: có hàm lượng tinh bột và đường rất cao, các chất béo, đạm, canxi, phốt pho, sắt. Theo Đông y, hạt sen có tác dụng bổ tâm, an thần, trị bệnh mất ngủ, suy nhược thần kinh, tỳ vị hư hàn, kiết lỵ lâu ngày.

Tâm sen: vị đắng, tính hàn, không độc. Tác dụng: an thần chữa mất ngủ, khát nước sau khi đẻ do hư nhiệt. Hàng ngày sử dụng 6 -12g. Tâm sen rang vàng sắc với 2 bát nước còn 1 bát, uống thay nước chè, dùng trong mùa hè để giải nhiệt trừ cảm nắng.

Gương sen (hạt để riêng): vị đắng, chát, mùi thơm, tính ấm. Gương sen xé nhỏ, sấy giòn, tán bột ăn có tác dụng tiêu ứ, tiêu khát, cầm máu, trị băng huyết, đái ra máu, chữa bệnh đái đường rất công hiệu. Gương sen để càng lâu càng có tác dụng chữa bệnh tốt.

Ngó sen: trong ngó sen có tinh bột, đường glucoza, vitamin C. Dùng tươi hoặc thái mỏng phơi khô để sử dụng dần.

Lá sen: có chất ancaloid làm dịu đau, an thần, chống co giật, giải nhiệt, trừ cảm nắng, làm thuốc cầm máu, chữa thổ huyết, băng huyết, mất ngủ.

- Chữa mất ngủ: Lá sen sắc đặc pha chút đường, uống trước khi đi ngủ khoảng hai giờ sẽ ngủ ngon.

Sau đây là một số bài thuốc trị bệnh từ các phòng của cây sen:

Trị nôn ra máu: lá sen 15g, ngó sen 15g, cỏ nhọ nồi 20g. Cho các vị vào nồi, đổ 3 bát nước sắc còn một bát, chia hai lần uống trong ngày.

Trị chảy máu cam: ngó sen rửa sạch, giã vắt nước cốt uống, nhỏ vài giọt về mũi.

Trị trẻ biếng ăn, người lớn suy nhược, ăn kém: hạt sen 100g, đậu ván trắng 10g, trần bì 12g, mầm lúa 30g. Tất cả sao qua, tán mịn, ngày uống 3 lần mỗi lần 100g, uống với nước cơm.

Trị viêm mũi, ngạt mũi lâu ngày: cánh hoa sen thái chỉ phơi khô 100g, bạch chỉ 100g. Tất cả tán mịn, cuốn giấy như cuốn thuốc, hút phả khói ra mũi liên tục trong vòng 1 tuần.

Trị đau lưng, mệt mỏi: nhụy sen 4g, cam thảo 6g. Tất cả cho vào nồi, đổ 3 bát nước sắc còn 1 bát, uống trước khi đi ngủ.

Lương y MINH CHÁNH

Đẩy lùi sỏi mật nhờ cách đơn giản mà hiệu quả

Sỏi mật chính yếu có hiện tượng nhiều ở người trưởng thành, tuổi càng cao khả năng bị sỏi mật càng tăng; tỉ lệ nữ giới bị sỏi mật cao hơn so với nam giới.

Tình trạng bị sỏi mật tức là đường dẫn mật có sỏi. Đường dẫn mật bao gồm các đường mật trong và ngoài gan, ống mật chủ và túi mật. Túi mật thì có cổ và thân. Một người có thể bị sỏi mật ở 1 hoặc nhiều vị trí không giống của đường mật. Nếu không chữa trị kịp thời, sỏi mật có thể để lại nhiều biến chứng nguy hiểm.

Hiện nay, nhằm giúp đẩy lùi sỏi mật hiệu quả giảm thiểu các biến chứng ảnh hưởng đến sức khoẻ thì đầu tiên bạn phải thay đổi thói quen xấu. Tiếp tới là chọn phương pháp hỗ trợ điều trị thích hợp.

Sỏi mật gây nên những biến chứng hiểm nguy ảnh hưởng đến sức khỏe ( Ảnh minh họa)

Thay đổi thói quen tốt giúp giảm thiểu sỏi mật

Sỏi mật hình thành phần lớn bắt nguồn từ chính những thói quen sinh hoạt hàng ngày của bạn. Một số thói quen xấu bạn nên thay đổi tốt cho sức khỏe như:

- Uống nước nhiều cả ngày: nhất là với những ai đã có tiền sử bị sỏi mật, sỏi thận thì bác sĩ thường khuyên bạn nên uống khoảng 2-3 lít nước mỗi ngày. Uống nhiều nước giúp cơ thể gặt đi chất cặn bã, làm dung môi và môi trường cho các phản ứng sinh hoá trong cơ thể, là thành phần căn bản cấu tạo nên tế bào. Uống nhiều nước và chia đều trong ngày giúp hạn chế nguy cơ sỏi hình thành và là sự lựa chọn tốt nhất cho cơ thể.

- Không bỏ bữa sáng: phần lớn người vẫn còn làm lơ việc ăn sáng, điều này tưởng chừng như vô hại nhưng lại là nguyên nhân chính yếu gây nên bệnh sỏi mật và sỏi thận. Trải qua 1 đêm dài nghỉ ngơi và khi thức giấc cơ thể cần bổ sung năng lượng. Túi mật sẽ bài tiết dịch mật vào buổi sáng nhằm chuẩn bị cho việc tiêu hoá thức ăn. Nếu bạn không ăn sáng thì không có thức ăn để tiêu hoá dẫn tới dịch mật tại trong túi mật lâu hơn và gây nên tình trạng tích tụ trong túi mật, đường ruột. Dịch mật kết hợp với cholesterol có trong túi mật tiết ra dễ hình thành sỏi mật. Chính vì thế, việc tạo thói quen ăn sáng mỗi ngày giúp giảm nguy cơ bị sỏi mật.

- Thường xuyên vận động: việc lười vận động cũng có thể gây nên sỏi. Các chuyên gia khuyến cáo việc ít vận động sẽ hạn chế khả năng hấp thụ canxi của cơ thể, khiến lượng canxi trong nước tiểu tăng lên dẫn đến việc hình thành sỏi thận hoặc sỏi đường tiết niệu. Thành bụng trong cơ thể dễ bị hiện tượng lỏng lẻo, nội tạng bị sa gây chèn ép ống mật làm cho dịch mật không bài tiết được, điều này gây tích tụ trong ống dẫn mật từ đó hình thành sỏi mật. Chính vì thế việc thường xuyên vận động không chỉ giúp cơ thể khỏe mạnh và ngăn ngừa sỏi mật hình thành, béo phì và nhiều bệnh khác. uy tin nhất mỗi ngày bạn nên vận động ít nhất 30 phút, không nên ngồi lâu một chỗ quá hai tiếng.

- Hạn chế ăn quá nhiều thức ăn chứa dầu mỡ: cholesterol là nguyên nhân chính dẫn tới sự hình thành của sỏi mật. Việc ăn quá nhiều thực phẩm giàu protit và chất béo sẽ dẫn tới lượng cholesterol trong dịch mật tăng lên và hình thành sỏi. Bạn nên tập cho mình thói quen ăn uống bổ sung nhiều chất xơ, giảm thiểu hàm lượng cholesterol từ thực phẩm. Một số thực phẩm giàu cholesterol bạn nên tránh như: mỡ động vật, nội tạng động vật, trứng cá, gạch cua, lòng đỏ trứng…. Xây dựng thực đơn đầy đủ hoa quả tươi và các thực phẩm có tác dụng tiêu giảm lượng cholesterol như: tỏi, cam, chanh, hành tây, mộc nhĩ đen….

Kết hợp với sự trảo đổi thói quen hàng ngày việc tìm phương pháp giúp hỗ trợ điều trị sỏi mật hiệu quả là cần thiết.

Thảo dược thiên nhiên giúp hạn chế các biến chứng do sỏi gây nên

Lựa chọn rất tốt cho việc hỗ trợ điều trị sỏi mật

Một số thành phần thảo dược có thể giúp nỗ lực sức khỏe và giảm thiểu các biến chứng cho sỏi mật gây nên, giúp hỗ trợ điều trị sỏi mật từ căn nguyên thông qua việc điều chỉnh sản xuất và dùng cholesterol như:

- Trái Sung: trong trái sung chứa đường glucose, saccarose; acid quinic, shikimic; các nguyên tố vi lượng (canxi, photpho, kali…) và một số vitamin (C, B1…). Nghiên cứu cho thấy, trái sung có tác dụng nhuận tràng, hạ huyết áp và phòng chống ung thư. Đặc biệt, 1 trong những công dụng của trái sung mà ít ai biết tới là hỗ trợ điều trị bệnh sỏi mật.

- Kim tiền thảo: Theo y học cổ truyền, kim tiền thảo vị ngọt, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, lợi niệu thông lâm, tiêu thũng bài thạch. Thảo dược này thường được sử dụng để chữa các chứng bệnh viêm đường tiết niệu, sỏi thận, sỏi mật, phù thũng do viêm thận, hoàng đản (vàng da)....

- Kim ngân hoa: Kim ngân hoa có công dụng kháng khuẩn, chống viêm, hạ cholesterol trong máu, nâng cao bài tiết dịch vị và mật, lợi tiểu... Là loại thảo dược dễ tìm giúp hỗ trợ điều trị các bệnh sỏi. Tuy nhiên, lúc kết hợp với trái sung, nhân trần, kim tiền thảo... hiệu quả tán sỏi sẽ tăng, nỗ lự triệu chứng và chức năng gan - mật - thận của người bệnh. Nhất là với trường hợp sỏi quá cứng khó điều trị, bệnh nhân từng phẫu thuật lấy sỏi muốn bộ phận ngừa tái phát.

Sự kết hợp hơn 25 thành phần thảo dược tự nhiên của Lương Y Phan Văn Sang chính là phương pháp hỗ trợ điều trị sỏi mật, sỏi thận, sỏi gan hiệu quả. Đặc biệt, đây là phương pháp giúp ngăn ngừa sỏi thận, sỏi mật, sỏi gan tái phát trở lại cũng như bộ phận ngừa các biến chứng do sỏi gây nên tạo cuộc sống tha hồ và sức khỏe tốt hơn cho người bệnh.

Sỏi Mật Trái Sung được chiết xuất từ Trái Sung, Uất Kim, Kim Tiền Thảo, Nấm Linh chi, Kim Ngân Hoa... Sỏi Mật Trái Sung dùng cho các trường hợp bị sỏi mật, sỏi gan, sỏi thận, bùn mật và các trường hợp đã phẫu thuật lấy sỏi, tán sỏi.

Tham khảo những người bệnh đã hỗ trợ điều trị hết sỏi:Tại đây

10 bài thuốc chữa đau đầu từ hoa

Trong y học cổ truyền, đau đầu được gọi là “đầu thống” gây nên bởi ngoại cảm hoặc nội thương tạp bệnh và được phân ra thành nhiều thể bệnh khác nhau. Về điều trị, trên nguyên tắc toàn diện và biện chứng, sử dụng các biện pháp không dùng thuốc và dùng thuốc, trong đó có một liệu pháp rất độc đáo là lựa chọn các loại hoa đơn thuần hoặc phối hợp với các vị thuốc làm phương thang để trị liệu. Dưới đây, xin được dẫn ra một số ví dụ điển hình:

Bài 1:

Cúc hoa trắng 100g, rượu trắng 1000ml.

Cúc hoa loại bỏ tạp chất, cho vào túi vải buộc kín miệng rồi đem ngâm trong bình rượu trắng, sau 7 ngày thì dùng được, mỗi ngày uống hai lần, mỗi lần 15-20 ml.

Công dụng: Thanh can minh mục, sơ phong giải độc, dùng thích hợp cho trường hợp đau đầu kinh niên, hay tái phát, hoa mắt, mờ mắt, bụng ngực bồn chồn không yên.

Bài 2:

Cúc hoa dại (dã cúc hoa) 10g, lá dâu 10g, đạm đậu xị 15g, ba vị tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.

Công dụng: Sơ phong tán nhiệt, thanh can giải độc, dùng tốt cho đau đầu thể Phong nhiệt.

lá dâu

Lá dâu

Bài 3:

Cúc hoa 10g, thục địa 15g, kỷ tử 15g, ba vị tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.

Công dụng: Bổ thận dưỡng can, bổ huyết tán phong. Dùng thích hợp cho đau đầu thể Can dương thượng cang.

Trà hoa cúc

Trà hoa cúc

Bài 4:

Cúc hoa 10g, Long tỉnh trà (một loại trà của Trung Quốc, nếu không có dùng trà khô thường dùng thay thế) 3g, hãm uống thay trà trong ngày.

Công dụng: Sơ tán phong nhiệt, thanh can minh mục, dùng tốt cho đau đầu thể Can dương thượng cang.

Trà khô

Trà khô

Bài 5:

Hạnh nhân 6g, cúc hoa 6g.

Hạnh nhân bỏ vỏ và đầu nhọn giã nát rồi đêm hãm với nước sôi cùng cúc hoa trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.

Công dụng: Khứ phong thanh nhiệt, dùng cho đau đầu thể Phong nhiệt.

Bài 6:

Cúc hoa 30g, lá dâu phơi sương 30g, vừng đen 30g, các vị tán vụn, hãm với nước sôi uống thay trà trong ngày.

Công dụng: Khứ phong thanh nhiệt, bồi bổ can thận, dùng cho đau đầu thể Phong nhiệt và Can dương thượng cang.

Bài 7:

Hoa hồng 4-5 bông, hoa đậu răng ngựa 12g, hãm uống thay trà trong ngày.

Công dụng: Lý khí hoạt huyết, bình can khứ phong, thích hợp cho đau đầu thể Can dương thượng cang.

Hoa hồng...khi kết hợp với các vị thuốc Đông y có tác dụng trị 1 số chứng đau đầu.

Hoa hồng...khi kết hợp với các vị thuốc Đông y có tác dụng trị 1 số chứng đau đầu.

Bài 8:

Cúc hoa 9g, bạch chỉ 9g, hãm với nước sôi, uống thay trà trong ngày. Công dụng: Khứ phong thắng thấp, chỉ thống, dùng thích hợp cho đau đầu thể Phong thấp.

Bài 9:

Hoa đỗ quyên tươi lượng vừa đủ, giã nát, đắp vào phía sau gáy hoặc vị trí đau trong 3 giờ, mỗi ngày 1 lần.

Công dụng: Khứ phong, trừ thấp, chỉ thống, thích hợp với đau đầu thể Phong nhiệt hoặc Phong thấp.

Bài 10:

Hoa thủy tiên 5g, cúc hoa 15g, hãm uống thay trà trong ngày.

Công dụng: Sơ phong thanh nhiệt, trừ thấp tiêu thũng, dùng cho đau đầu thể Phong nhiệt.

Thạc sĩ Hoàng Khánh Toàn

Có phải cây trẩu chữa được đau và sâu răng?

Hỏi: Có phải cây trẩu chữa được đau và sâu răng? Xin chỉ rõ công dụng và liều dùng.

(Lê Thanh Nam - Hà Nam)

Trả lời: Cây trẩu còn gọi là cây dầu sơn ngô đồng, mộc du thụ, thiên niên đồng, bancoulier, abrasin.

Tên khoa học Aleurites montana (Lour) Wils.

Thuộc họ thầu dầu Euphorbiaceae.

Cây trẩu cho ta 1 loại dầu sơn rất quý dùng trong nước và xuất khẩu. Khô dầu trẩu là một nguồn phân bón ruộng, có tác dụng trừ sâu.

Cây trẩu thuộc họ thầu dầu

Cây trẩu thuộc họ thầu dầu

Mô tả cây

Trẩu là một cây to, cao có thể đến 8m hay nhiều hơn, thân nhẵn. Lá đa dạng, lúc thì có thùy xâu, lúc thì xẻ nông, lúc thì nguyên và hình timt trên bóng, màu sẫm, mặt dưới mờ, màu nhạt. Các lá đa dạng đều có một đặc điểm chung. Ở góc phiến lá và kẽ thùy bao giờ cũng có 2 tuyến đỏ nổi rõ, cuống lá dày 7 - 10cm. Hoa đơn tính, cùng gốc, có lúc khác gốc. Tràng 5 màu trắng, đốm tía ở móng tràng. Quả hình trứng, màu lục, đường kính 3 - 5cm, mặt ngoài nhăn nheo, cấu tạo bởi 3 mảnh vỏ, mỗi mảnh có một đường gân nổi cao, 3 hạt có nổi nhũ lớn chứa có lá xẻ thùy nhiều dầu. Mùa hoa tháng 3 - 4, thường ra hoa trước khi lá non xuất hiện. Thường tháng 9 lại có 1 vụ hoa nữa. Quả của lứa hoa trước chín vào khoảng tháng 10.

Phân bố thu hái và chế biến

Cây trẩu mọc hoang và được trồng tại nhiều vùng từ cao tới thấp, miền núi cũng như đồng bằng ở khắp nước ta. Trẩu ưa đất mát, thoát nước trên các dốc. Hầu hết các tỉnh đều có trẩu, miền Bắc như: Ninh Bình, Nam Định, Hà Nam, Hòa Bình, Hà Tây, Vĩnh Phúc… và được trồng ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây.

Tuy trẩu không đòi hỏi đất lắm nhưng những nơi nào đất không có độ xốp vừa phải, đất không mát và không tốt thì cây trẩu chóng chết. Ở những đất thích hợp, cây trẩu mọc rất nhanh, ra hoa vào năm thứ 2 hay thứ 3, cành mọc thành táng ngang, đều, ngay khi còn ít năm đã có thể đến 12 - 15m. Có thể để trồng để che phủ chè. Dứa, hoàng tinh hay cà phê, 100kg hạt cho trung bình 52kg nhân, 46,74kg vỏ hạt (hao hụt chừng 1,26%). Một tạ hạt (cả vỏ) cho chừng 10 - 20kg dầu và 60 - 65kg khô (bã).

Công dụng và liều dùng

Hiện nay công dụng cốt yếu của cây trẩu chỉ là sử dụng hạt ép dầu để pha sơn, quét lên vải cho khỏi mưa ướt. Giá trị xuất khẩu rất cao. Khô trẩu chỉ mới dùng làm phân bón ruộng. Làm thuốc người ta sử dụng nhân hạt trẩu đốt thành than, tán bột hòa với mỡ lợn bôi chữa chóc lở, mụn nhọt. Vỏ cây trẩu sắc với nước sử dụng ngậm chữa đau và sâu răng. Ngày ngậm nhiều lần, nhổ nước đi không được nuốt.

(Theo Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam) của GS. ĐỖ TẤT LỢI

(SKĐS cuối tuần)

Cách đẩy lùi mỏi mắt, mờ mắt, nhức mắt bằng Đông Y

Ngày nay với cuộc sống công nghệ thông tin hiện đại, hằng ngày chúng ta liên tục tiếp xúc với các thiết bị điện tử như máy tính, điện thoại, ipad, ti vi...Vì thế việc gặp phải các vấn đề vào mắt như: đau, nhức, mỏi, khô và mờ mắt là điều khó tránh khỏi.

Ảnh minh họa

Để cảm giác dễ chịu tức thì, nhiều người thường có thói quen sử dụng thuốc nhỏ mắt. Tuy nhiên lạm dụng thuốc nhỏ mắt chỉ cần khoảng dài có thể gây ra những hậu quả khôn lường cho đôi mắt của bạn. Bởi vì trong thành phần thuốc nhỏ mắt thường chứa corticoid. Corticoid có tác dụng nhanh nhất trong việc làm mắt dễ chịu, hết nhức mỏi mắt. Tuy nhiên, corticoid tạo môi trường cho vi khuẩn và nấm phát triển, gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng về mắt . Hơn nữa việc sử dụng lâu dài thuốc nhỏ mắt chứa corticoid có thể dẫn tới teo dây thần kinh thị giác, cườm nước (glocom) nguy cơ dẫn đến mù lòa cao.

1. Người bị mỏi mắt thường có các biểu hiện sau:

– Cảm giác bất ổn, kích thích như có vật lạ trong mắt

– Cảm giác bị nhức mắt, khô mắt và nóng mắt

– Nhìn mọi vật xung quanh cảm thấy mờ nhất thời

– Cảm giác mỗi khi chớp mắt thì mi mắt và nhãn cầu dính về nhau

– Đỏ mắt, chảy nước mắt, tăng tiết nhầy

– Nhạy cảm với ánh sáng, cảm thấy sợ khi tiếp xúc với ánh sáng

– Cảm giác mắt căng ra, mờ mắt hoặc nhìn ra 2 3 hình

– Đau đầu, mỏi cổ, khó tập trung

– Mắt khó chịu và cảm giác này càng tăng lên mỗi khi đọc sách báo, xem Ti Vi, ngồi máy tính…..

2. Nguyên nhân gây mỏi mắt

– Môi trường: làm việc trong môi trường máy điều hòa hay thời tiết nóng bức, không khí ô nhiễm khói bụi, tia cực tím trong ánh sáng mặt trời, hóa chất độc hại…

– Tuổi tác: Đây là lý do thường gặp nhất do lượng nước mắt và chức năng duy trì độ ẩm của phim nước mắt giảm theo tuổi. Phụ nữ sau mãn kinh cũng thường gặp các khiếu nại vào khô mắt

– Mắt điều tiết quá độ, căng ra hết mức lúc dùng máy tính, tivi…

– Đọc sách, học bài trong điều kiện ánh sáng không đủ

– Dễ xảy ra cho các teen bị cận, loạn hoặc viễn thị nhưng học hành, giải trí mà không mang kính phù hợp

– Do yếu tố tâm lý: cơ thể đang mệt mỏi nhưng vẫn cải thiện làm việc, học tập

– Thói quen ăn uống thiếu chất, hoặc đang trong thời kỳ ăn kiêng, không mang đến cho cơ thể đủ chất để nuôi thần kinh thị giác.

3. Cách đẩy lùi mờ mắt, mỏi mắt, nhức mắt, tắc tuyến lệ bằng Đông Y Gia Truyền

Để khắc phục tình trạng mờ mắt, bạn phải thay đổi thói quen khi làm việc của mình, giữ khoảng cách hợp lý với máy tính, không ngồi máy tính thường xuyên quá lâu mà phải để cho đôi mắt có thời gian thư giãn nhất định. Chú ý tới độ sáng trong bộ phận làm việc và bộ phận xem vô tuyến, phòng đọc sách… Nên đeo kính mắt lúc đi hay làm việc ngoài trời nắng. Bạn có thể nghiên cứu cách tập thể dục hằng ngày cho đôi mắt bạn

Y học cổ truyền lý luận rằng: Mắt là phòng bên ngoài nhưng lại có quan hệ mật thiết với các tạng phủ bên trong. Trong đó, nếu thận bất túc, 2 mắt sẽ thiếu thần, nhìn không rõ. Can, thận tốt thì mắt mới tinh anh, nhanh nhẹn.

Quan niệm cơ thể học theo Đông y cũng cho rằng: Thận khai khiếu ra tai, Can khai khiếu ra mắt. Hiểu 1 cách đơn giản, mắt mờ, quáng gà là do can hư, mắt sưng, đỏ là do can nhiệt. Can huyết hư gây mắt mờ, Can dương thịnh gây hoa mắt, ù tai, mắt đỏ. Thận âm hư gây tai ù, hoa mắt.

Kế thừa tác dụng của bài “Minh mục địa hoàng” các cán bộ của Công ty cổ phần dược phẩm PQA đã nghiên cứu, lựa chọn những vật liệu rất tốt nhất, gia giảm thêm các vị thuốc khác hợp lý đã cho ra đời sản phẩm PQA Sáng Mắt.

Sản phẩm được chiết xuất hoàn toàn từ thảo dược thiên nhiên có tác dụng tư dưỡng can thận, bổ khí huyết, thanh can, minh mục . Dùng cho các trường hợp mắt có màng, chảy nước mắt, mờ mắt, khô mắt, nhức mắt, cận thị, viêm võng mạc, viêm tuyến lệ vô cùng hiệu quả.

>>XEM THÊM CHI TIẾT VỀ SẢN PHẨM<<

▶▶▶ Sản phẩm PQA Sáng mắt dùng rât rất tốt cho người bị mờ mắt, nhức mắt, khô mắt, giảm thị lực, cận thị, viêm võng mạc, viêm tuyến lệ, chảy nước mắt, rỉ mắt, quáng gà…

PQA Sáng mắt phù hợp với mọi lứa tuổi nhất là trẻ em. PQA Sáng mắt khí được bào chế hoàn toàn từ thảo dược thiên nhiên nên rất an toàn cho người sử dụng. PQA Sáng bồi bổ can thận cho mắt sáng long lanh và một tương lai rạng ngời

Đừng ngần ngại hãy nhấc máy và liên lạc ngay tới tổng đài của Dược phẩm PQA 1800 6845 nếu như bạn đang gặp khiếu nại vào sức khỏe. PQA luôn đi cùng cùng bạn.

XEM VIDEO VỀ KHÁCH HÀNG ĐÃ SỬ DỤNG SẢN PHẨM

Số GPQC: 00328/2016/XNQC-ATTP

Sản phẩm này không phải là thuốc, không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh.

Râu ngô trị viêm thận, viêm gan

Theo Đông y, râu ngô vị ngọt, tính bình; vào can thận. Có tác dụng lợi thuỷ tiết nhiệt, bình can lợi đởm. Râu ngô được dùng làm thuốc thông mật điều trị vàng da phù nề; viêm gan, viêm túi mật, sỏi túi mật; làm thuốc lợi tiểu trị bệnh về tim, đau thận, tê thấp, sỏi thận, tăng huyết áp. Nó còn là vị thuốc thông mật lợi tiểu an toàn nhất nên dùng trong gần như bệnh. Ngày dùng 30 - 60g dạng khô, 100 - 200g dạng tươi.

Một số bài thuốc có râu ngô:

Chữa viêm thận, viêm bàng quang: râu ngô 100g, rau má 50g, ý dĩ 50g, mã đề 50g, sài đất 40g. Sắc uống ngày 1 thang.

Viêm gan, tắc mật, đái vàng, vàng da, viêm thận cấp, nước tiểu đỏ: râu ngô 50 - 100g hay bấc ngô (phần lõi cây ngô) 150g. Sắc uống.

Chữa đái tháo đường: hạt ngô ngâm ủ cho mọc mầm, dùng mầm ngô sấy khô, ngày uống 20 - 30g, uống với nước ngọn khoai lang đỏ.

Trà râu ngô rất tốt cho người viêm thận, viêm đường tiết niệu...

Trà râu ngô rất tốt cho người viêm thận, viêm đường tiết niệu...

Món ăn thuốc có râu ngô:

Cháo đậu đen đại táo cà rốt râu ngô: râu ngô 60g, đậu đen 30g, đại táo 30g, cà rốt 90g. Râu ngô sắc lấy nước; đem nước râu ngô nấu với các vị thuốc. Nấu chín nhừ, thêm chút gia vị cho ăn. Dùng cho bệnh nhân viêm gan vàng da.

Mao căn tử tô ẩm: bạch mao căn 50g, tử tô 10g, râu ngô 30g. Tất cả cùng đem nấu sắc lấy nước. Mỗi ngày 1 lần, chia hai lần uống sáng chiều. Thích hợp cho người bị phù nề như viêm phù thận, phù nhẹ toàn thân, phù thiểu dưỡng ở người cao tuổi.

Râu ngô giàu vitamin và các chất vi lượng, có tác dụng thông mật, lợi tiểu, trị viêm gan,…

Râu ngô giàu vitamin và các chất vi lượng, có tác dụng thông mật, lợi tiểu, trị viêm gan,…

Thịt lợn hầm râu ngô: thịt lợn nạc 100g, râu ngô non 100 - 200g. Hầm nhừ, thêm gia vị ăn. Dùng rất tốt cho người đái tháo đường.

Râu ngô hầm tiểu kế, tinh hoàn gà: râu ngô 50g, tiểu kế 20g, tinh hoàn gà hai đôi. Hầm nhừ, thêm gia vị ăn. Thích hợp cho người lao phổi khái huyết.

Râu ngô hầm ong non (Ngọc mễ tu phong nhục thang): râu ngô 100g, ong non 20 - 30g, đổ nước nấu chín nhừ, thêm gia vị, cách ngày làm một lần. Dùng tốt cho người nâng cao huyết áp, đái tháo đường, viêm thận, viêm gan, viêm túi mật.

Trà râu ngô: nước râu ngô hãm đặc uống khi nóng hoặc nước râu ngô pha đường để lạnh chia uống nhiều lần hàng ngày thay nước trà. Dùng rất tốt cho người viêm thận, viêm đường tiết niệu, viêm gan vàng da.

Rùa hầm râu ngô: thịt rùa 250g, râu ngô non 100 - 200g, thêm nước vừa đủ, nấu chín nhừ, cho thêm gia vị. Ngày ăn một lần. Thích hợp cho người bệnh xơ gan cổ trướng.

BS. Tiểu Lan

Xoa xát phòng chống táo bón cho trẻ

Hoặc ở trẻ còn bú, người mẹ ăn quá nhiều chất cay nóng truyền qua sữa làm cho tỳ vị của trẻ bị tích nhiệt, gây hao tổn tân dịch cũng dễ tạo ...