Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Râu ngô trị viêm thận, viêm gan

Theo Đông y, râu ngô vị ngọt, tính bình; vào can thận. Có tác dụng lợi thuỷ tiết nhiệt, bình can lợi đởm. Râu ngô được dùng làm thuốc thông mật điều trị vàng da phù nề; viêm gan, viêm túi mật, sỏi túi mật; làm thuốc lợi tiểu trị bệnh về tim, đau thận, tê thấp, sỏi thận, tăng huyết áp. Nó còn là vị thuốc thông mật lợi tiểu an toàn nhất nên dùng trong gần như bệnh. Ngày dùng 30 - 60g dạng khô, 100 - 200g dạng tươi.

Một số bài thuốc có râu ngô:

Chữa viêm thận, viêm bàng quang: râu ngô 100g, rau má 50g, ý dĩ 50g, mã đề 50g, sài đất 40g. Sắc uống ngày 1 thang.

Viêm gan, tắc mật, đái vàng, vàng da, viêm thận cấp, nước tiểu đỏ: râu ngô 50 - 100g hay bấc ngô (phần lõi cây ngô) 150g. Sắc uống.

Chữa đái tháo đường: hạt ngô ngâm ủ cho mọc mầm, dùng mầm ngô sấy khô, ngày uống 20 - 30g, uống với nước ngọn khoai lang đỏ.

Trà râu ngô rất tốt cho người viêm thận, viêm đường tiết niệu...

Trà râu ngô rất tốt cho người viêm thận, viêm đường tiết niệu...

Món ăn thuốc có râu ngô:

Cháo đậu đen đại táo cà rốt râu ngô: râu ngô 60g, đậu đen 30g, đại táo 30g, cà rốt 90g. Râu ngô sắc lấy nước; đem nước râu ngô nấu với các vị thuốc. Nấu chín nhừ, thêm chút gia vị cho ăn. Dùng cho bệnh nhân viêm gan vàng da.

Mao căn tử tô ẩm: bạch mao căn 50g, tử tô 10g, râu ngô 30g. Tất cả cùng đem nấu sắc lấy nước. Mỗi ngày 1 lần, chia hai lần uống sáng chiều. Thích hợp cho người bị phù nề như viêm phù thận, phù nhẹ toàn thân, phù thiểu dưỡng ở người cao tuổi.

Râu ngô giàu vitamin và các chất vi lượng, có tác dụng thông mật, lợi tiểu, trị viêm gan,…

Râu ngô giàu vitamin và các chất vi lượng, có tác dụng thông mật, lợi tiểu, trị viêm gan,…

Thịt lợn hầm râu ngô: thịt lợn nạc 100g, râu ngô non 100 - 200g. Hầm nhừ, thêm gia vị ăn. Dùng rất tốt cho người đái tháo đường.

Râu ngô hầm tiểu kế, tinh hoàn gà: râu ngô 50g, tiểu kế 20g, tinh hoàn gà hai đôi. Hầm nhừ, thêm gia vị ăn. Thích hợp cho người lao phổi khái huyết.

Râu ngô hầm ong non (Ngọc mễ tu phong nhục thang): râu ngô 100g, ong non 20 - 30g, đổ nước nấu chín nhừ, thêm gia vị, cách ngày làm một lần. Dùng tốt cho người nâng cao huyết áp, đái tháo đường, viêm thận, viêm gan, viêm túi mật.

Trà râu ngô: nước râu ngô hãm đặc uống khi nóng hoặc nước râu ngô pha đường để lạnh chia uống nhiều lần hàng ngày thay nước trà. Dùng rất tốt cho người viêm thận, viêm đường tiết niệu, viêm gan vàng da.

Rùa hầm râu ngô: thịt rùa 250g, râu ngô non 100 - 200g, thêm nước vừa đủ, nấu chín nhừ, cho thêm gia vị. Ngày ăn một lần. Thích hợp cho người bệnh xơ gan cổ trướng.

BS. Tiểu Lan

Bạch hạc trị bệnh ngoài da

Theo y học cổ truyền, cây bạch hạc có vị ngọt dịu, tính bình, có công dụng sát trùng, chống ngứa, trừ phong thấp. Thường dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác để trị ghẻ, eczema, hắc lào, lang ben,...

Bạch hạc còn có tên khác là nam uy linh tiên, kiến cò, là cây nhỏ mọc thành bụi, cao 1-2m, có rễ chùm. Thân non có lông mịn. Lá mọc đối, có cuống, phiến hình trứng thuôn dài, mặt trên nhẵn, mặt dưới hơi có lông mịn. Hoa nhỏ, mọc thành xim nhiều hoa ở nách lá hoặc đầu cành hay ngọn thân. Hoa màu trắng trông như con hạc đang bay nên có tên gọi là bạch hạc. Quả nang dài, có lông. Cây ra hoa về tháng 8.

Cây mọc hoang, được trồng ở nhiều nơi, thu hái quanh năm, dùng tươi hay phơi khô. Trong nhân dân thường dùng bạch hạc chữa một số bệnh ngoài da như: hắc lào, ghẻ lở, eczema, đau nhức xương khớp,...

Bạch hạc trị bệnh ngoài da

Bạch hạc.

Một số bài thuốc thường dùng:

Chữa eczema, hắc lào, lang ben: Rễ cây bạch hạc 50g, thái nhỏ, giã nát; cồn etylic 70 độ 100ml. Ngâm rễ cây bạch hạc đã được giã nát trong vòng 1-2 tuần, sau đó lọc qua vải xô, lấy dịch thuốc bôi vào vùng da bị hắc lào, lang ben ngày hai lần tới lúc khỏi. Hoặc dùng rễ bạch hạc tươi giã nhỏ, ngâm rượu trong vòng 7 - 10 ngày, rửa sạch các vết hắc lào rồi bôi thuốc này lên.

Chữa ghẻ: Rễ, cành, lá bạch hạc 20g, rễ cây muồng trâu 20g, rượu trắng 45 độ 100ml. Các vị thuốc cắt ngắn, giã dập, ngâm rượu trong một tuần. Lấy tăm bông tẩm rượu thuốc bôi lên chỗ ghẻ ngày hai lần.

Hỗ trợ điều trị phong thấp, nhức gân, tê bại: Mỗi ngày uống từ 10 - 15g dưới dạng thuốc sắc. 10 ngày là 1 liệu trình.

Trị đau nhức khớp do phong hàn thấp (với biểu hiện đau mỏi các khớp; đau nâng cao khi thời tiết lạnh, mưa, ẩm thấp): Rễ cây bạch hạc 12g, thổ phục linh (củ khúc khắc) 16g, ké đầu ngựa 16g, hy thiêm 16g, kim ngân hoa 16g, quế chi 8g, bạch chỉ 8g, tỳ giải (củ cây kim cang) 12g, ý dĩ 12g, cam thảo nam 12g. Sắc uống mỗi ngày một thang. 10 ngày là một liệu trình.

Đau thần kinh tọa do lạnh: Rễ cây bạch hạc 8g, rễ lá lốt 12g, ráy sơn thục 12g, cẩu tích 16g, quế chi 8g, ngải cứu 8g, vỏ quýt 8g, rễ cỏ xước 12g. Sắc uống ngày một thang. Uống 10 - 15 ngày. Bài này giúp khu phong tán hàn, hành khí hoạt huyết, giảm đau.

Bác sĩ Nguyễn Thị Nga

3 bài thuốc dưỡng da bằng thảo dược

Sau đây xin giới thiệu 1 số bài thuốc dưỡng da bằng thảo dược để các bạn tham khảo áp dụng.

Bài 1: ngân hoa 10g, liên kiều 10g, bạch chỉ 10g, xuyên khung 16g, đương quy 16g, kinh giới 12g, táo tàu 12g, thục địa 16g, sinh khương 8g, cam thảo 10g. Cho các vị vào nồi, đổ 1.500ml nước sắc lọc bỏ bã lấy 400ml, chia hai lần uống trong ngày. Công dụng: chống mụn, chống ngứa, nâng cao cường dinh dưỡng cho da, thích hợp với những người da sần nhiều mụn, chất da sạm vàng úa, thiếu dinh dưỡng.

Ngân hoa là vị thuốc chống viêm, trị mụn trên da rất hiệu quả.

Ngân hoa là vị thuốc chống viêm, trị mụn trên da rất hiệu quả.

Bài 2: xuyên khung 12g, đương quy 16g, bạch thược 16g, kê huyết đằng 16g, đinh lăng 16g, phòng sâm 16g, hà thủ ô (chế) 16g, xa tiền 12g, long nhãn 16g, ngân hoa 10g, thương nhĩ (sao) 16g, cam thảo 10g. Cho các vị thuốc vào nồi, đổ 1.500ml nước, sắc lọc bỏ bã lấy 400ml, chia hai - 3 lần uống trong ngày. Công dụng: bổ huyết, tăng cường sự đàn hồi cho làn da, mất nếp nhắn, rất hiệu quả cho người da xanh do thiếu máu, bệnh tim mất ngủ, da xanh sạm nhiều nếp nhăn, thiếu dinh dưỡng sau ốm dậy.

Bố chính sâm là 1 vị trong bài thuốc uống tác dụng thanh nhiệt, chống viêm.

Bố chính sâm là một vị trong bài thuốc uống tác dụng thanh nhiệt, chống viêm.

Bài 3: sài hồ 12g, đan bì 10g, trạch tả 10g, hoàng cầm 12g, bộ phận sâm 16g, sâm hành 6g, bố chính sâm 20g, uất kim 12g, hương phụ 12g, ích mẫu 16g, hoàng kỳ 16g, chi tử 10g, rau má 20g, bạch thược 16g. Cho các vị thuốc về nồi, đổ 1.500ml nước, sắc lọc bỏ bã lấy 400ml, chia hai lần uống trong ngày. Công dụng: thanh nhiệt, mát gan, chống ngứa chống viêm. Bài này dùng tốt cho những người can khí uất kết, da nóng, mặt nổi nhiều mụn, nước tiểu vàng, đại luôn tiện không thông, hay bị đỏ da, da dày từng mảng. Lưu ý: khi dùng bài này nên kiêng các chất kích thích như rượu bia, cà phê, thuốc lá và các thức cay nóng.

Lương y Thanh Ngọc


Côn trùng làm thuốc

Xác ve sầu

Xác ve sầu tên thuốc thuyền thoái, tên khác thiền thoái, thuyền y, thiền thuế. Để làm thuốc, mùa thu hoạch xác ve xầu về tháng 6-7, khi lấy xác cần gỡ nhẹ tay, tránh làm xác vụn nát, cho xác ve sầu vào nước sôi, rửa nhẹ cho sạch, ngắt đầu và chân rồi phơi khô. Dược liệu có vị mặn, ngọt, tính hơi hàn, có tác dụng phát tán phong nhiệt, giải biểu, tiêu viêm được điều trị trong những trường hợp sau:

Chữa cảm mạo phong nhiệt, ho nhiều đờm, mất tiếng: Xác ve sầu 3g, ngưu bàng tử 10g, cam thảo 3g, cát cánh 5g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa nóng sốt, co giật ở trẻ em: xác ve sầu 3g, câu đằng 6g, tán nhỏ. Sắc với 200ml nước còn 50ml, thêm đường, uống làm 1-2 lần trong ngày.

Chữa chứng khóc đêm của trẻ sơ sinh, trẻ sơ sinh hay giật mình, ngủ không yên giấc: Với trẻ sơ sinh hoặc còn đang bú: xác ve sầu (tán bột mịn)1-2g hòa về sữa cho trẻ uống hoặc bôi thuốc vào núm vú cho trẻ bú.

Chữa ho, khàn tiếng, mất tiếng: xác ve sầu, nghệ vàng, lượng bằng nhau, tán bột mịn. Tùy theo tuổi, với trẻ em, ngày uống 3 - 4 lần, mỗi lần 4 - 6g, người lớn 8 - 12g một lần; có thể thêm mật ong hoặc đường phèn cho dễ uống.

Chữa đau đầu, chóng mặt, ù tai: xác ve sầu, liều dùng hàng ngày 4 - 6g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột uống với nước ấm.

Chữa mắt có màng mộng, đau nhức mắt: xác ve sầu, cúc hoa vàng lượng bằng nhau, phơi khô, tán bột mịn, ngày uống một - 2 lần, mỗi lần 8-12g với nước ấm có thể hòa thêm ít mật ong.

Chú ý: phụ nữ có thai không sử dụng xác ve sầu.

Tổ bọ ngựa

Tổ bọ ngựa hay còn gọi là bao trứng bọ ngựa thường sử dụng tổ dính trên cây dâu tằm với tên thuốc là tang phiêu diêu.

Côn trùng làm thuốcBao trứng bọ ngựa bổ thận, ích tinh.

Bao trứng bọ ngựa đem về hấp độ nửa giờ cho chín trứng bên trong rồi nướng vàng hoặc sao giòn, tán bột, rây mịn. Có thể sao với rượu, giấm hoặc đốt tồn tính.

Dược liệu có vị ngọt, mặn, hơi tanh, tính bình, không độc, có tác dụng bổ thận, ích tinh, chữa mồ hôi trộm, tiểu đêm nhiều lần, di tinh, liệt tinh, xuất tinh sớm đau lưng, tiểu són, phụ nữ bế kinh.

Thuốc bổ thận, chữa đau lưng: bao trứng bọ ngựa cây dâu 30g, thạch hộc 20g, đỗ trọng 20g. Tất cả thái nhỏ, phơi khô tán rây bột mịn, luyện với mận ong hoàn viên 6g. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 viên với ít rượu hâm nóng.

Hoặc sử dụng bài: bao trứng bọ ngựa cây dâu 10g, kim anh 10g, liên tu 10g, sơn dược 12g. Sắc uống.

Trị chứng di tinh, hoạt tinh: bao trứng bọ ngựa cây dâu sao vàng, nghiền thành bột trộn với bột long cốt, lượng bằng nhau, ngày uống hai lần, mỗi lần 6-8g. Uống 7-10 ngày là một liệu trình

Chữa tiểu dầm: bao trứng bọ ngựa cây dâu 12g, đảng sâm 12g, phá cố chỉ 12g, ích trí nhân 8g, thỏ ty tử 8g, ba kích 8g, sắc uống.

Trị tiểu đêm: bao trứng bọ ngựa cây dâu 30g sao vàng. Sắc chia 2 lần uống trong ngày.

Trị tiểu dắt, tiểu nhân tiện nhiều lần, tiểu són không tự chủ: bao trứng bọ ngựa cây dâu sấy khô tán bột, mỗi lần uống 6g với nước cơm, ngày uống 2 lần.

Trị di tinh, tiểu đục, tiểu ra máu: bao trứng bọ ngựa cây dâu 12g, long cốt 30g, mẫu lệ 30g, kim anh tử 15g, hoàng bá 10g, tri mẫu 10g, dạ giao đằng 30g. Sắc uống ngày một thang.

Tổ trùng muối

Tổ trùng muối là những bướu sần sùi do con trùng muối châm và đẻ trứng vào lá, về cành cây muối hay cây diêm phu mộc mà thành. Dược liệu lấy về, gỡ bỏ những mảnh phiến lá, rửa sạch cho về chõ hấp nước sôi chừng 3-5 phút, phơi khô. Khi sử dụng giã nhỏ, để sống hoặc sao qua với tên thuốc là ngũ bội tử.

Ngũ bội tử có vị chua, chát, mặn tính bình, không độc, có tác dụng làm se, cầm máu, kháng khuẩn, sử dụng điều trị trong những trường hợp sau:

Chữa đau bụng tiêu chảy, kiết lỵ: Ngũ bội tử tán bột rây mịn, trộn với thịt quả mơ muối (lượng 2 thứ bằng nhau), giã nhỏ, viên thành viên bằng hạt ngô, ngày uống 30 viên với rượu vào lúc đói.

Chữa đái dầm: Ngũ bội tử giã nhỏ. Thêm nước cho dính, đắp vào rốn.

Trị nôn trớ: Ngũ bội tử 3g, 1 nửa để sống, một nửa nướng chín, trích cam thảo 20g. Tất cả tán nhỏ. Ngày dùng 2g/lần hòa với nước cơm hay nước cháo chiêu thuốc.

Chữa băng huyết: ngũ bội tử 4g, rễ vú bò 10g, vỏ cây máu chó 10g. Tất cả thái nhỏ, phơi khô, sắc với 200ml nước, còn 50ml, uống làm một lần trong ngày.

Trị tiểu ra máu: ngũ bội tử 4g, lá lẩu 16g, rễ cây ráng 12g, lá huyết dụ 12g, lá tiết dê 10g. Tất cả giã nát, lọc lấy nước, uống trong ngày.

DS. Mai Thu Thủy

Bài thuốc chữa rối loạn tiêu hóa ở trẻ

Tiêu chảytrẻ em còn gọi là chứng rối loạn tiêu hóa, thực tích, tích trệ trẻ em. Bệnh có thể gặp tại thể cấp tính hay thể mạn tính. Nguyên nhân có thể do ăn uống, bị nhiễm khuẩn hay có trùng tích làm ảnh hưởng đến công năng hoạt động của tỳ vị, gây triệu chứng chủ yếu: nôn, tiêu chảy và gày mòn.

su quan tu

Sử quân tử

Khi bị tiêu chảy làm mất nước, mất chất điện giải có biến chứng nhiễm độc thần kinh (bệnh tả...) nhất thiết phải đến bệnh viện và phải dùng phương pháp chữa bệnh của y học hiện đại. Y học cổ truyền điều trị hiệu quả đối với thể cấp tính đơn thuần và mạn tính. Sau đây là một số bài thuốc trị theo từng thể.

Tích trệ do không tiêu hóa được thức ăn (sữa, các loại ngũ cốc) và giun

Tích trệ đồ ăn: Trẻ có biểu hiện bụng đầy trướng, bú ít, nôn mửa có mùi chua khai, ngủ không yên giấc, hay khóc, tiêu chảy, phân có mùi chua thối, chậm tiêu hóa nên có lúc đi không những thế thức ăn; rêu lưỡi mỏng trắng hoặc hơi vàng; mạch hoạt. Phương pháp chữa là tiêu thực đạo trệ. Dùng 1 trong các bài:

Bài 1: sơn tra 8g, mạch nha 6g, thần khúc 4g, kê nội kim 4g, trần bì 4g, la bạc tử 4g, ý dĩ 12g. Sắc uống ngày 1 thang hay tán bột làm viên, mỗi ngày uống 12 - 16g bột.

Mạch nha

Mạch nha

Bài 2: hương phụ 80g, mạch nha 40g, thần khúc 40g, sa nhân 20g, trần bì 8g, cam thảo (chích) 20g. Sấy khô, tán bột. Ngày uống hai lần, mỗi lần 2 - 3g. Bài này dùng cho trẻ đang bú sữa bị tiêu chảy.

Bài 3: mộc hương 12g, bạch truật 12g, mạch nha 12g, cát cánh 8g, chỉ thực 12g, sa nhân 8g, hoàng liên 12g, sơn tra 12g, la bạc tử 8g, trần bì 12g, thần khúc 12g. Sấy khô tán bột làm viên. Ngày uống 4 - 8g.

Lô hội

Lô hội và sử quân tử là 2 vị thuốc trị tiêu chảy tại trẻ do nhiễm khuẩn (thường gặp vào mùa hè).

Bài 4: đảng sâm 20g, ý dĩ 16g, cát cánh 8g, liên nhục 16g, biển đậu 16g, sa nhân 8g, bạch truật 16g, trần bì 8g, cam thảo 6g, phục linh 16g, hoài sơn 16g. Tán bột làm viên. Ngày uống 6 - 12g. Dùng cho trẻ sức khỏe yếu (hư chứng) hoặc tiêu chảy kéo dài (tỳ hư).

Tích trệ do trùng tích (do giun đũa hay giun kim): Trẻ có biểu hiện ngứa ngáy, da vàng khô, hay khóc, hay kinh giật, ăn uống thất thường, buồn nôn, đau bụng, bụng trướng, đại tiện thể lỏng. Phương pháp chữa: kiện tỳ, trừ thấp, trừ khuẩn (tẩy giun). 6 - 12 tháng nên tẩy giun cho trẻ một lần. Dùng bài: hoàng liên 20g, đảng sâm 16g, sơn tra 12g, bạch truật 20g, lô hội 6g, sử quân tử 16g, chích thảo 6g, phục linh 12g, thần khúc 16g, mạch nha 10g. Sấy khô, tán bột làm viên. ngày uống 8 - 12g.

Kê nội kim

Kê nội kim

Tích trệ do thấp nhiệt

Tiêu chảy do nhiễm khuẩn trực tiếp tại đường tiêu hóa hay do dị ứng nhiễm khuẩn (thường hay gặp vào mùa hè). Trẻ có biểu hiện tiêu chảy nhiều lần trong ngày (có thể tới 10 lần), sôi bụng, bụng trướng, nôn mửa, có sốt, khát nước, tiểu luôn tiện ít đỏ, rêu lưỡi vàng hoặc trắng khô, hậu môn đỏ rát. Phương pháp chữa: Thanh nhiệt trừ thấp. Dùng bài: cát căn 12g, hoàng cầm 8g, hoàng liên 8g, cam thảo 4g. Nếu thiên vào thấp có dấu hiệu rêu lưỡi trắng dày, tiêu chảy ra nhiều nước, lợm giọng, buồn nôn và nôn thêm thương truật 4g, bán hạ chế 4g. Nếu tiểu tiện thể ít thêm phục linh 8g, sa tiền 8g.

Lương y Thảo Nguyên

(SKĐS)

Bài thuốc chữa chứng đau nhức đầu

Đau đầu và nhức đầu là hai chứng trạng luôn gắn chặt với nhau. Biểu hiện đau nhức vùng đầu, mặt. Nguyên nhân gây đau đầu do nội thương chủ yếu là do tình chí uất kết, lao thương quá mức, bộ phận dục quá độ, ăn uống thất thường... làm tổn thương khí huyết và công năng sinh lý của các tạng phủ mà sinh ra đau đầu. Nguyên nhân gây đau đầu do ngoại cảm cốt yếu do ăn uống, lao động quá sức hoặc bị cảm, cảm nắng, cảm gió tác động về ba kinh dương hội tụ ở đầu gây nên bệnh. Tùy từng trường hợp mà sử dụng bài thuốc phù hợp.

Biểu hiện đau đầu chủ yếu tại vùng đầu, mặt.

Nhức đầu do nội thương

Nếu nhức đầu nhiều về buổi sáng, buổi chiều nhẹ dần, có cảm giác long óc, tinh thần mỏi mệt, đoản hơi, yếu sức, ăn uống kém, mạch hư.

Bài thuốc: hoàng kỳ 18g, nhân sâm 12g, trần bì 10g, đương qui 16g, thược dược 16g, cam thảo 6g, thăng ma 8g, sài hồ 12g, mạn kinh tử 10g, xuyên khung 10g, tế tân 4g. Cam thảo chích, các vị trên sắc với 1.800ml, lọc bỏ bã lấy 250ml. Uống ấm, chia đều 5 phần, uống trong ngày.

Nếu nhức đầu âm ỉ, thỉnh thoảng cắn buốt từng cơn, đau nâng cao dần vào đêm, ngũ tâm phiền nhiệt, hồi hộp đánh trống ngực, da trắng bệch, môi nhợt, mạch vi tế.

Bài thuốc: xuyên khung 16g, xuyên quy 20g, thục địa 36g, bạch thược 20g, bạc hà 12g, cúc hoa 12g.

Cách dùng: bạch thược (giấm sao), xuyên quy (rượu sao). Các vị trên sắc với 1.700ml, lọc bỏ bã lấy 250ml. Uống ấm, chia đều 5 phần, uống trong ngày.

Nếu nhức đầu choáng váng lợm giọng, buồn nôn, tâm phiền mình nặng, đờm nhiều. Nặng thì nhức đầu nôn mửa, ngất. Mạch hoạt.

Bài thuốc: bán hạ 12g, bạch truật 12g, trần bì 8g, mạch nha 12g, phục linh 10g, hoàng kỳ 10g, nhân sâm 8g, trạch tả 10g, thương truật 12g, thiên ma 16g, can khương 6g, phong phòng 10g, xuyên khung 12g. Bán hạ (chế), bạch truật (tẩm nước gạo sao), thiên ma (cám sao). Các vị trên sắc với 1.700ml, lọc bỏ bã lấy 250ml. Uống ấm, chia đều 5 phần, uống trong ngày.

Nếu đau nhức đầu, căng nhức sau khi cảm xúc mạnh hoặc làm việc căng thẳng, ngực sườn đầy tức, hoa mắt chóng mặt, mệt mỏi, mạch huyền.

Bài thuốc: sài hồ 16g, bạch thược 16g, sơn chi 16g, hoàng cầm 12g, đan bì 12g, đương quy 12g, thanh bì 10g, câu đằng 10g, cam thảo 8g. Bạch thược (giấm sao), đan bì (rượu sao). Các vị trên sắc với 1.500ml, lọc bỏ bã lấy 250ml. Uống ấm, chia đều 5 phần, uống trong ngày.

Nhức đầu do ngoại cảm

Nếu đau đầu, choáng váng, sợ gió, phát nóng có mồ hôi, co giật, đau lan tỏa khắp đầu, đau từng cơn. Mạch phù hoàn.

Bài thuốc: hoàng cầm 16g, khương hoạt 12g, phòng phong 16g, sài hồ 10g, bạch chỉ 16g, xuyên khung 16g, kinh giới 12g, cam thảo 6g. Hoàng cầm (rượu sao), các vị trên sắc với 1.700ml, lọc bỏ bã lấy 250ml. Uống ấm, chia đều 4 phần, uống trong ngày.

Nếu nhức đầu cắn nhức trong óc từng cơn, như dùi đâm, chân tay lạnh, rét, mạch trầm trì. Tùy theo hàn tà (phong hàn) xâm nhập vào lục kinh mà đau ở từng vị trí không như nhau như kinh thái dương đau nhức ở gáy và chân tóc; kinh thiếu dương đau nhức ở hai bên khu vực tai; kinh thiếu âm đau nhức trong óc; kinh quyết âm đau nhức vùng đỉnh đầu; kinh thái âm đau nhức đầu âm ỉ liên miên, không xác định được vùng kèm theo nặng nề hoặc bụng sôi đau.

Bài thuốc: ma hoàng 12g, khương hoạt 18g, bộ phận phong 14g, thương truật 16g, thăng ma 12g, cam thảo 8g, bạch phụ tử 12g, bạch chỉ 12g. Ma hoàng bỏ mắt cùng nước 1.700ml, sắc còn 1.200ml vớt bỏ bọt, cho các vị còn lại về sắc lọc bỏ bã lấy 200ml. Uống ấm, chia đều 4 phần, uống trong ngày.

Nếu đau đầu, phát sốt, ra nhiều mồ hôi, miệng khát, tâm phiền, đỏ mặt, mắt đỏ, thích mát, sợ nóng, tiểu nhân thể sẻn, đại luôn tiện táo kết, mạch hồng sác.

Bài thuốc: khương hoạt 10g, hoàng liên 8g, phòng phong 12g, sài hồ 10g, xuyên khung 10g, cam thảo 8g, hoàng cầm 20g, thạch cao 28g, tri mẫu 12g. Hoàng liên (tẩm rượu), hoàng cầm (tẩm rượu vi sao), cam thảo (chích). Thạch cao cho vào túi vải túm lại. Các vị trên sắc với 1.700ml, lọc bỏ bã lấy 250ml. Uống mát, chia đều 5 phần, uống trong ngày.

Nếu đầu nặng nhức, trời âm u đau nặng hơn, người nặng nề, ậm ạch khó chịu, mạch nhu.

Bài thuốc: khương hoạt 16g, độc hoạt 16g, cảo bản 10g, phòng phong 12g, cam thảo 6g, xuyên quy 16g, quế chi 6g, cốt toái bổ 16g, tế tân 4g, thương truật 12g, ý dĩ 16g. Các vị trên sắc với 1.500ml, lọc bỏ bã lấy 200ml. Uống ấm, chia đều 5 phần, uống trong ngày.

TS. Trần Xuân Nguyên

Bài thuốc trị chứng vị khí thượng nghịch

Đây là hiện tượng hay gặp trong chứng nôn, nấc, trào ngược dịch vị.

Người bệnh thường có triệu chứng: không thiết ăn, bụng trướng, có lúc đau, hay lợm giọng buồn nôn, ợ hơi, nấc, nóng rát vùng cổ ngực…; mạch huyền hoạt, rêu lưỡi trắng mỏng hay nhớt.

Hoắc hương là vị thuốc trong bài “Hoắc hương chính khí tán” trị chứng vị khí thượng nghịch do ngoại tà.

Hoắc hương là vị thuốc trong bài “Hoắc hương chính khí tán” trị chứng vị khí thượng nghịch do ngoại tà.

Nếu can khí uất kết có thể hoành nghịch phạm vị, người bệnh còn kèm theo triệu chứng như: ợ hơi, bụng trướng, đau hạ sườn, đắng miệng, tính tình hay bực dọc… Trên lâm sàng thường gặp hai thể hư chứng và thực chứng. Sau đây là 1 số bài thuốc trị theo từng thể:

Vị khí thượng nghịch do thực chứng: hay gặp hai thể do ngoại tà và do can khí hoành nghịch phạm vỵ

Vị khí thượng nghịch do ngoại tà:

Người bệnh có triệu chứng:đột ngột ợ hơi, ợ hăng, nuốt chua, bụng trướng, nóng rát cổ, có khi buồn nôn. Ăn uống đầy khó tiêu… Phép điều trị là sơ tà giải biểu phương hương hóa trọc hay tiêu thực hóa trệ hòa vị giáng nghịch.

Dùng 1 trong các bài:

Bài 1: Hoắc hương chính khí tán: hoắc hương 12g; tử tô, hậu phác, bán hạ chế, phục linh, quất bì, bạch chỉ, cát cánh mỗi vị 8g; đại phúc bì 6g, bạch truật 12g, cam thảo 4g, sinh khương 3 lát, đại táo 15g. Sắc uống.

Bài 2: Bảo hòa hoàn: trần bì 6g, sơn tra 12g, thần khúc 8g, liên kiều 8g, lại bạc tử 8g, phục linh 12g, bán hạ chế 12g. Sắc uống.

Vị khí thượng nghịch do can khí hoành nghịch:

Người bệnh có triệu chứng: ợ hơi, bụng trướng, đau hạ sườn, đắng miệng, tính tình hay bực dọc… Phép điều trị là sơ can hòa vị giáng nghịch. Dùng 1 trong các bài:

Bài 1: Bán hạ hậu phác thang: bán hạ 12g, phục linh 12g, hậu phác 10g, tô diệp 6g, sinh khương 6g. Sắc uống.

Bài 2: Sài hồ sơ can tán: bạch thược 12g; xuyên khung, hương phụ, sài hồ, trần bì, chỉ xác mỗi vị 8g; cam thảo 4g. Sắc uống.

Vị khí thượng nghịch do hư chứng: hay gặp sau mệt nhọc hay ốm lâu do hư hàn nhiều và vỵ âm hư.

Vị khí thượng nghịch do hư hàn

Người bệnh có triệu chứng: ăn hay nôn, ăn không tiêu, lạnh đau tăng, đại tiện thể có lúc nát… Phép điều trị là ôn trung kiện tỳ hòa vị giáng nghịch. Dùng 1 trong các bài:

Bài 1: Lý trung thang: nhân sâm 12g, bạch truật 12g, cam thảo 6g, can khương 6g. Sắc uống.

Bài 2: Hương sa lục quân tử thang: mộc hương 6g, sa nhân 6g, trần bì 6g, phục linh 8g, bán hạ chế 8g, nhân sâm 8g, bạch truật 12g, cam thảo 4g, sinh khương 4g, ô mai hai quả, đại táo 3 quả. Sắc uống.

Vị khí thượng nghịch do vị âm hư

Người bệnh có triệu chứng: nôn nửa, nóng rát, khát nước, khạc đờm dãi, lúc đau khi không vùng vị quản đó thường do vị âm hư. Phép điều trị là tư dưỡng vị âm giáng nghịch chỉ ẩu. Dùng bài Mạch đông thang: mạch môn 12g, nhân sâm 12g, bán hạ chế 19g, ngạnh mễ 8g, cam thảo 6g, đại táo 16g. Sắc uống.

TS.BSCK2. Trần Lập Công

Xoa xát phòng chống táo bón cho trẻ

Hoặc ở trẻ còn bú, người mẹ ăn quá nhiều chất cay nóng truyền qua sữa làm cho tỳ vị của trẻ bị tích nhiệt, gây hao tổn tân dịch cũng dễ tạo ...