Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Món ăn bài thuốc chữa thần kinh suy nhược

Mướp đắng xào.

Thần kinh suy nhược, biểu hiện cốt yếu là mất ngủ, đau đầu, chân tay rã rời, tâm thần kích động, tư tưởng phân tán, trầm cảm... Sau khi bị bệnh, người bệnh thấy sức khỏe suy giảm, có liên quan với làm việc quá sức, tinh thần căng thẳng.

Theo Y học cổ truyền thần kinh suy nhược có nhiều thể bệnh khác nhau, với các nguyên nhân và triệu chứng khác nhau. Với mỗi thể bệnh đó có những món ăn, bài thuốc riêng để điều trị.

Thể tinh thần thương tổn: Do ức chế, tức giận, buồn bực, uất khí khiến gan rối loạn chức năng, kiềm chế lâu hóa hỏa, làm cho gan hỏa bốc lên thành viêm, tâm thần không yên.

Dầu ăn xào mướp đắng: Mướp đắng 250g, gừng một miếng; hành 1 cây, dầu ăn 50ml. Hành, gừng cạo rửa sạch, thái nhỏ, mướp đắng rửa sạch, thái sợi nhỏ, cho dầu về chảo đun nóng, rồi cho mướp về xào, cho muối, mì chính vừa ăn. Ăn với cơm.

Tim dê, hoa hồng nướng: Tim dê một quả, hoa hồng tươi 70g, khô 15g. Hoa hồng rửa sạch, cho về nồi với chút nước, muối luộc 30 phút, tim dê rửa sạch, thái nhỏ, sử dụng đũa tre xâu lại, ướp nước hoa hồng về nướng nhiều lần, cho thịt chín. Ăn với cơm.

Óc lợn hầm thiên ma: Óc lợn một cái, thiên ma 10g. Thiên ma rửa sạch, óc lợn lấy đi màng ngoài và tia máu, rồi rửa sạch. Tất cả bỏ vào nồi hoặc tô, đổ về chút nước sôi, hầm cách thủy khoảng 2 giờ, cho gia vị vừa ăn.

Thể ăn uống thương tổn: Do ăn uống không điều độ, tổn thương tì vị, làm cho tiêu hóa bị đình trệ, gây ra viêm nhiệt, khiến gan hỏa thượng viêm, tâm thần bất yên.

Cháo bạch chỉ, phục linh, ý dĩ nhân: Bạch chỉ 10g, phục linh 30g, ý dĩ nhân 50g, vỏ quýt một miếng. Ý dĩ nhân ngâm nước nửa giờ; Các vị khác bỏ về nồi, nước vừa đủ, đun sôi 30 phút, gạn nước bỏ bã, cho ý dĩ nhân về nấu cháo. Ăn nhạt hoặc cho chút muối đều được.

Chè đậu xanh, hải đới: Hải đới 60g, đậu xanh 120g, đường kính. Hải đới ngâm nước rồi rửa sạch, thái sợi nhỏ, đậu xanh rửa sạch. Tất cả bỏ về nồi, đổ vừa nước, hầm cho đậu nhừ; cho đường về quậy đều, rồi đun sôi lên là được.

Óc lợn hầm thiên ma.

Thể thận âm phụ tổn: Do tình dục quá sức, thận âm hao tổn, âm dịch bất túc, không thể chuyển lên tới tim, khiến nước không kịp với lửa, tâm dương độc kháng. Nếu tâm hỏa tích tụ ở trong, không thể dẫn xuống tới thận. Tức là tâm thận bất giao, tâm thần bất an.

Nước tuyết lê, bách hợp: Tuyết lê 1 quả, bách hợp 10g, đường phèn vừa ngọt. Tuyết lê rửa sạch, để cả vỏ thái hạt lựu, bách hợp rửa sạch, cho về nồi cùng tuyết lê, đổ vừa nước, đun sôi rồi cho đường phèn, quậy đều, đun nhỏ lửa cho đến lúc bách hợp nhừ là được.

Dương sâm nấu tổ yến, tuyết nhĩ: Tổ yến 30g, tuyết nhĩ 15g, tây dương sâm miếng 18g. Tổ yến ngâm nước lạnh, nhặt bỏ lông tạp chất rồi rửa sạch. Tuyết nhĩ ngâm nước rồi rửa sạch, tây dương sâm rửa sạch. Tất cả bỏ vào tô, cho nước sôi vào rồi hầm cách thủy hai giờ, gia vị vừa ăn.

Canh trứng gà, bách hợp: Trứng gà 2 quả, bách hợp 60g. Bách hợp rửa sạch, đổ nước vào nấu cho nhừ; lòng đỏ trứng gà cho vào, đun sôi lên là được.

Thể tâm tỳ thụ tổn: Suy tư mệt mỏi, thương tổn tâm tì, tim bị tổn thương thì huyết dần hao tổn; tì bị tổn thương thì chuyển hóa không đủ và rối loạn khiến máu thiếu và yếu. Hoặc sau khi bị bệnh, sức yếu, tâm huyết bất túc, khiến tâm thiếu dinh dưỡng, thần không giữ được ổn định. Do huyết hư nên không thể dưỡng tâm, tâm hư thì không thể dưỡng thần. Cho nên tâm thần bất an, không ngủ được yên giấc.

Cháo tấm tim lợn: Tim lợn một quả; tấm gạo 50g. Tim lợn rửa sạch, luộc chín, thái miếng nhỏ, ướp xì dầu, mì chính, tấm vo sạch, bỏ về nước luộc tim, nấu cháo. Khi cháo nhừ cho tim đã chuẩn bị vào, ăn mỗi ngày 1 bữa, liền trong 7 ngày.

Tim lợn hầm nhân sâm, đương quy: Tim lợn 1 quả, nhân sâm 10g, đương quy 10g. Nhân sâm, đương quy rửa sạch, thái mỏng, tim rửa sạch, mở ra cho sâm, quy vào trong, đặt trong liễn sứ, đổ nước sôi vào, hầm cách thủy 3 giờ, gia vị vừa ăn, ăn với cơm.

Canh trứng chim câu, táo tầu, câu kỷ: Trứng chim câu trắng 3 quả, câu kỷ tử 15g, táo tầu 6 quả. Câu kỷ tử, táo nam bỏ hột; trứng chim câu luộc chín, bóc vỏ, bỏ về nồi, đổ vừa nước, đun sôi rồi nhỏ lửa hầm khoảng 20 phút. Cho đường kính vừa ngọt, nấu sôi lên là được.

Lương y Vũ Quốc Trung

Bài thuốc chữa đau vai gáy

Đau vai gáy trong Đông y thuộc phạm vi chứng tý. Nguyên nhân do chính khí suy giảm, phong hàn thấp tà xâm nhập kinh lạc gây bế tắc sự vận hành kinh khí gây đau khi vận động. Sau đây là một số bài thuốc chữa trị:

- Nếu đột nhiên vai gáy cứng đau, có khi không cúi hoặc cúi rất khó khăn, cánh tay mỏi giảm thiểu vận động nâng cao dần, gốc nách dần hẹp lại, khó hoặc không vận động được. Rêu lưỡi trắng, mỏng, mạch phù. Dùng bài Ma hoàng quế chi thang gia giảm: ma hoàng 16g, cam thảo 8g, quế chi 8g, phòng phong 20g, hạnh nhân16g, bạch chỉ 24g. Ma hoàng bỏ mắt, quế chi cạo vỏ. Các vị trên sắc với 1.200ml nước, lọc bỏ bã, lấy 200ml, uống ấm, chia đều 5 phần, ngày uống 4 lần, tối uống 1 lần.

-Nếu đau vai tay, góc nách hẹp dần đau nhức trong ống xương, đau ngực đôi khi thấy khó thở hoặc ho ậm ạch, tim hồi hộp đánh trống ngực, người gầy sút, xanh xao, chất lưỡi bệu, mạch vi tế. Dùng bài Quyên tý thang gia giảm: đương quy 16g, sinh khương 8g, xích thược 12g, hoàng kỳ 12g, thạch xương bồ 8g, khương hoạt 16g, táo nhân 10g, chích thảo 6g, viễn chí 8g, phòng phong 16g, cát cánh 12g, đại táo 7 quả. Viễn chí bỏ lõi chế, đại táo xẻ ra. Các vị trên sắc với 1.800ml nước, lọc bỏ bã, lấy 250ml. Uống ấm, chia đều 5 lần, ngày uống 4 lần, tối uống 1 lần.

Ngoài việc sử dụng thuốc người bệnh có thể phối hợp xoa bóp, bấm huyệt để hỗ trợ điều trị.

BS. Trần Văn Bản

Khổ qua

Khổ qua (Momordica charantia L.) còn có tên khác là Mướp đắng, Cẩm lệ chi, Hồng dương, Lại bồ đào là loại phổ biến, phân bố ở nhiều quốc gia vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Đây là loại cây dây leo có tua cuốn đơn, mảnh. Thân có cạnh, lá mọc so le, chia 5 – 7 thùy, mép có răng cưa, mặt dưới màu nhạt hơn mặt trên, gân lá có lông ngắn. Hoa đực và hoa cái mọc riêng tại nách lá, có cuống dài, cánh hoa màu vàng nhạt. Quả hình thoi, dài khoảng từ 8-15cm, mặt ngoài lồi lõm. Quả non có màu xanh, khi chín màu vàng hồng. Hạt dẹp, trông gần giống hạt Bí ngô, quanh hạt có màng đỏ bao quanh.

Thành phần hóa học và tác dụng dược lý

Theo nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới cho biết trái Khổ qua có chứa:

Các Glucosid triterpenic: Charantin và hỗn hợp các chất thuộc nhóm Stgmastadienol.

Các chất hạ đường huyết: Pugazenthi – S – Murthy, chiết xuất ra 3 chất được đặt tên là Kakara.

Protein: Các nhà khoa học đã tìm ra trong trái Khổ qua có chứa một số Protein có tác dụng kìm hãm sự phát triển của tế bào.

Đã phát hiện 17 loại Acid amin cần phải có và không thiết yếu.

Lipid: Chiếm khoảng 0,76% (theo trọng lượng khô) bao gồm các Lipid không phân cực, Glucolipid và Phospholipid.

Các sắc tố, chủ yếu là Lycopen, lượng Lycopen tăng dần theo độ chín của quả.

Các Vitamin và khoáng chất có lợi như: Vitamin B1 0,8mg, Vitamin B2 0,2mg, Vitamin PP 3.72mg, Vitamin E 18,7mg, β – caroten 0,56mg tính trên 100g trái mướp đắng. Các nhân tố vi lượng như Mg, Ca, Cu, Fe, Zn.

Một số Alcol bậc nhất và Aldehyl: Myrtenol, Hexanol, Benzylaleol…

Các chất trên còn được tìm thấy trong lá và hạt Khổ qua nhưng hàm lượng khác nhau.

Dịch ép từ trái Khổ qua có tác dụng hạ Glucose máu trên động vật thực nghiệm được gây bệnh đái tháo đường không phụ thuộc vào insuline và trên động vật thực nghiệm được gây bệnh đái tháo đường phụ thuộc vào insuline lại không có tác dụng hạ đường huyết. Dịch ép từ trái Khổ qua có tác dụng làm tăng đáng kể sự dung nạp Glucose tại 73% bệnh nhân đái tháo đường type 2. Ngoài tác dụng hạ đường huyết, mướp đắng còn có 1 số tác dụng dược lý khác như có hoạt tính chống ung thư đặc biệt là các tế bào Lympho ác tính, kìm khuẩn mạnh, ức chế bào tử nấm, hạt Khổ qua còn có tác dụng diệt giun tròn.

Theo y học cổ truyền Khổ qua có vị đắng (khổ) tính lạnh (hàn), quy Tâm, Can, Phế kinh có tác dụng thanh nhiệt, sinh tân, chỉ khát, minh mục.

Ứng dụng trong điều trị bệnh đái tháo đường

Người ta sử dụng trái Khổ qua để điều trị cho bệnh nhân đái tháo đường type 2 bằng nước ép và các món ăn chế biến từ nó.

Đối với bệnh nhân đái tháo đường type 2 cần dùng 50ml nước ép Khổ qua uống về mỗi sáng lúc đói, có thể uống hỗn hợp nước ép Khổ qua và nước ép Lý gai (Amla) với tỉ lệ 1:1. Bệnh nhân sử dụng duy trì thường xuyên trong hai tháng sẽ có hiệu quả rõ rệt.

Các món ăn bài thuốc chữa tiểu đường hiệu quả, dễ làm:

Khổ qua 100g, tuỵ lợn một cái, nấm hương 200g. Nấu thành canh, ăn 2-3 bữa/tuần. Dùng cho những người tiểu đường, nâng cao huyết áp, tim mạch.

Khổ qua 100g, nấm hương 150g, đậu ván trắng (Bạch biển đậu) 200g. Nấu thành cháo. Món ăn này có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, hạ đường huyết. Dùng cho những người tiểu đường, ăn uống kém, gầy sút. Có thể dùng hằng ngày thay cơm.

Khổ qua 150g, đậu phụ 200g, nấm hương 200g. Nấu thành canh. Dùng cho người tiểu đường, rối loạn chuyển hóa Lipid có hiệu quả tốt.

Khổ qua 100g, nấm hương 200g, mộc nhĩ 150g, thịt nạc (lợn hoặc ức gà) 200g. Nấu thành canh, ăn 2 - 4 bữa/tuần. Dùng cho người tiểu đường, rối loạn chuyển hóa Lipid, tăng huyết áp.

Khổ qua 150g, Hoài sơn 10g, Ý dĩ 15g, nấm hương 100g, thịt nạc 200g. Hầm lên ăn cùng cơm hai – 3 lần/tuần. Dùng cho người tiểu đường, rối loạn chuyển hóa, suy nhược cơ thể.

Khổ qua một quả to, nấm hương 50g, trứng gà 2 quả. Xào lên ăn cùng cơm. Dùng cho người bị bệnh tiểu đường, rối loạn chuyển hóa Lipid, mẩn ngứa…

Chú ý: Trong các món canh, món hầm, Khổ qua được cho về sau, không nấu quá kỹ làm mất đi các Enzyme, các khoáng chất tự nhiên có tác dụng chữa bệnh trong trái Khổ qua.

Tiến sĩ – Lương Y: Phùng Tuấn Giang (Thọ Xuân Đường)

(Chủ tịch Tổ chức Quốc tế chữa bệnh bằng liệu pháp thiên nhiên ở Việt Nam.)

Cây vối

Vị đắng, chát, tính mát; vối có tác dụng thanh nhiệt giải biểu, sát trùng, chỉ dương, tiêu trệ. Có tác dụng kiện tỳ, giúp ăn ngon, tiêu hóa tốt, giải nhiệt. Ở nhiều miền quê Việt Nam, mỗi khi ăn 1 bữa có không ít thịt, mỡ, người ta thường nấu 1 nồi nước vối đặc để uống cả ngày. Chất đắng trong vối sẽ kích thích tiết nhiều dịch tiêu hóa, chất tanin bảo vệ niêm mạc ruột, còn chất tinh dầu có tính kháng khuẩn nhưng không hại vi khuẩn có ích trong ruột. Người ta cũng thường phối hợp lá vối với lá hoắc hương làm nước hãm uống lợi tiêu hóa. Theo kinh nghiệm dân gian, lá vối tươi có kết quả trị bệnh cao hơn so với lá vối đã ủ hoặc đã phơi khô.

Lá vối sử dụng làm thuốc trị viêm da, đầy trướng bụng, tiêu chảy.

Một số bài thuốc chữa bệnh có vối:

Chữa bỏng: Vỏ cây vối cạo bỏ vỏ thô, rửa sạch, giã nát, hòa với nước sôi để nguội, lọc lấy nước, bôi lên khắp chỗ bỏng.

Chữa viêm gan, vàng da: Dùng rễ 200g mỗi ngày, nấu sắc uống.

Chữa viêm da lở ngứa và chốc đầu: Sắc lá vối lấy nước đặc để bôi.

Chữa thấp chẩn cấp và mạn tính: Lá vối tươi 50g, lá kinh giới 50g. Đun sôi kỹ, lấy nước rửa vết loét, kết hợp thuốc mỡ bôi.

Giải độc lá ngón: Lá vối tươi 1 nắm; giã nát, ép lấy nước, thêm ít nước ép lấy nước 2, hợp hai nước cho uống hoặc bơm thẳng về dạ dày.

Chữa đau bụng, đầy trướng, ăn không tiêu: Vỏ vối 12g, bán hạ chế 8g, cát sâm sao 8g, cam thảo 4g. Sắc uống.

Chữa tiêu chảy:

- Lá vối 5-10g, vỏ rộp cây ổi (hoặc búp ổi) 10g, núm quả chuối tiêu khô 10g. Sắc với 400ml, gạn cô lại còn 100ml, chia uống 2 lần trong ngày.

- Vỏ vối 100g, vỏ sung 100g, lá ổi 100g, lá phèn đen 100g, vỏ cây đại 50g, hạt vải 50g, quế 30g. Sấy khô, tán bột, luyện với hồ làm hoàn bằng hạt đậu xanh. Người to uống hai lần, mỗi lần 12g. Trẻ em tùy tuổi giảm liều.

Chữa bệnh đái tháo đường: Lá vối 20 - 30g. Hãm hoặc sắc uống trong ngày. Người dân vùng Porto Alegre ở Brazil sử dụng 20g lá vối, 20g lá cây gioi sắc uống thường xuyên để chữa bệnh tiểu đường.

TS. Nguyễn Đức Quang

7 thức uống giải nhiệt mùa hè

Mùa hè nóng bức, sự gia nâng cao nhiệt độ gây cảm giác căng thẳng, mệt mỏi, dễ cáu gắt và thiếu tập trung. Trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt như vậy, uống gì để giải tỏa được trạng thái đó luôn là vấn đề được mọi người quan tâm. Sau đây là 1 số loại đồ uống giải nhiệt trong mùa hè, có Xuất xứ từ thiên nhiên, tốt cho sức khỏe.

Trà xanh

Trà xanh là một trong những loại thảo dược có ý nghĩa rất cần phải có trong việc duy trì sức khỏe tốt của cơ thể. Mỗi ngày uống 4 - 5 tách trà khoảng (800 - 1.000ml) giúp cơ thể giải nhiệt, giải độc, phòng ngừa được một số bệnh như tăng huyết áp, cholesterol máu tăng, xơ vữa động mạch... Nên uống về buổi sáng, trưa, chiều; không uống vào buổi tối để khỏi ảnh hưởng đến giấc ngủ.

Nước dừa

Dừa là một trong nhiều loại nước uống giải khát thông dụng. Theo Đông y, nước dừa ngọt ấm, không độc, giúp tăng cường khí lực. Uống nước dừa thường xuyên sẽ rất tốt cho sức khỏe.

Nước cam, chanh

Cam , chanh có tác dụng sinh tân dịch, nỗ lực tình trạng khô khát, trừ nhiệt, dùng chữa các bệnh khô nóng do nhiệt. Một cốc nước cam, chanh ép trong những ngày nắng nóng sẽ giúp cơ thể dịu lại.

Nước chanh tươi có tác dụng giải nhiệt tốt trong mùa hè.

Nước vỏ dưa hấu, bí đao

Vỏ dưa hấu có tác dụng thanh nhiệt giải độc, vỏ quả bí đao có tác dụng tiêu sưng, viêm, tốt cho những người mắc bệnh đái tháo đường. Có công dụng thanh nhiệt và có thể điều trị bệnh thận, bệnh phổi, bệnh tim gây ra bởi phù, đầy bụng, khó tiểu…Vỏ dưa hấu, bí đao thái nhỏ (dùng tươi hoặc phơi khô) rồi sắc với nước uống hàng ngày. Nước vỏ dưa hấu, bí đao có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, rất tốt cho những người khó tiểu nhân tiện hay cần được bù nước.

Nước râu ngô

Râu ngô có vị ngọt, tính bình, có công năng lợi tiểu, tiêu thũng, thông mật, lợi mật, thanh huyết nhiệt, bình can. Râu ngô có thể sử dụng tươi hoặc phơi khô, kết hợp với mía lau, lá dứa nấu nước uống thay nước lọc hàng ngày, có tác dụng lợi tiểu. Những người bị bệnh tăng huyết áp, đái tháo đường sử dụng nước này rất tốt.

Sắn dây

Sắn dây có vị ngọt, tính bình, công năng giải nhiệt, giải biểu, sinh tân dịch, chỉ khát, tác dụng chữa cảm mạo, phát sốt, ban sởi mới phát, đi lị ra máu, khát nước, mụn nhọt. Đặc biệt, trong sắn dây có chất isoflavon giúp tăng lượng máu lên não, làm giảm huyết áp, nên cũng là thức uống bộ phận nâng cao huyết áp rất tốt.

Rau má

Rau má có vị ngọt, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu. Thường sử dụng trong các trường hợp sốt, chảy máu cam, nôn ra máu, lỵ, táo bón do nhiệt, đi tiểu buốt, mụn nhọt, rôm sảy, ho, giãn tĩnh mạch, chức năng giải độc của gan suy yếu, sản phụ ít sữa. Ngày dùng 30 - 50g rau má tươi (có thể nhiều hơn), rửa thật sạch rồi giã nát hoặc xay nhuyễn, vắt lấy nước pha nước hoặc nước dừa để uống. Có thể nấu canh để ăn trong bữa cơm hoặc nấu lấy nước uống thay nước trà trong ngày.

Bác sĩ Đoàn Liên

Lưu ý lúc sử dụng nước giải khát, thanh nhiệt từ cây cỏLưu ý lúc dùng nước giải khát, thanh nhiệt từ cây cỏGiải nhiệt với 8 loại trà rất tốt cho sức khỏeGiải nhiệt với 8 loại trà tốt cho sức khỏeGiải nhiệt sử dụng máy lạnh, quạt máy, trẻ ồ ạt nhập việnGiải nhiệt bằng máy lạnh, quạt máy, trẻ ồ ạt nhập viện

Bài thuốc trị chứng mất ngủ

Ðông y cho rằng: “Ngủ là gốc của phần âm do thần làm chủ. Thần yên thì ngủ được, thần không yên thì không ngủ được. Sỡ dĩ thần không yên là do tà khí (do ăn uống không chuẩn mức sinh ra đờm hỏa đọng lại trong tim) quấy nhiễu hoặc do dinh khí (dinh khí là khí đi trong huyết quản dẫn huyết đi nuôi cơ thể) không đủ. Những nguyên nhân ấy sinh ra chứng mất ngủ”.

Trên lâm sàng chia mất ngủ thành 5 thể sau:

Do tâm và tỳ hư yếu: Lao động mệt nhọc hoặc suy nghĩ quá nhiều, làm tổn thương tới tâm và tỳ, huyết dịch của tâm hao tổn, tâm thần không ổn định nên sinh ra mất ngủ kinh niên.

Triệu chứng: Sắc mặt không tươi, người mệt mỏi, tinh thần uể oải, ăn uống không ngon miệng, hay quên, tim hồi hộp, đêm ngủ lơ mơ hoặc thức trắng đêm không ngủ được, mạch tế hoặc sác.

Phép trị: Bổ dưỡng tâm tỳ.

Bài thuốc “Dưỡng tâm thang”: Hoàng kỳ 16g, phục linh 12g, phục thần 12g, đương quy 12g, xuyên khung 8g, chích thảo 4g, bán hạ (chế) 10g, bá tử nhân 12g, viễn chí (bỏ lõi) 8g, ngũ vị tử 8g, nhân sâm 12g, nhục quế 6g.

Cách dùng: Ngày uống 1 thang sắc uống 3 lần trong ngày, uống trước khi ăn hoặc khi đói.

Các vị thuốc chữa mất ngủ.

Do âm suy hỏa vượng: Bắt nguồn từ thận thủy kém, chân âm suy không sinh ra được nhiều huyết đưa lên tâm (tim) tâm thiếu huyết hỏa của tâm cang thịnh, tim phải làm việc nên mất ngủ hoặc trằn trọc không ngủ được. Mặt khác, bản thân tạng thận cũng có thủy hỏa (âm dương) lúc âm suy thì dương của thận càng vượng, hỏa bốc lên cũng sinh ra chứng mất ngủ.

Triệu chứng: Đầu nặng, hay choáng váng, tai ù, tâm phiền, tân dịch ít nên hay khô miệng, đối với tuổi trung niên thường hay mộng tinh, di tinh, chất lưỡi đỏ, mạch tế sác.

Phép trị: Tư âm thanh hỏa.

Bài thuốc “Thiên vương bổ tâm đan”: Sinh địa (tẩy rượu) 16g, nhân sâm 12g, huyền sâm 12g, đan sâm 16g, phục linh 12g, cát cánh 12g, viễn chí 8g, hắc táo nhân 20g, bá tử nhân 12g, thiên môn 8g, mạch môn 8g, đương qui (thân) 12g, ngũ vị tử 8g: Gia thêm thạch xương bồ 10g, phục thần 12g. Tán bột làm viên hoàn mật, mỗi viên 5g, lấy chu sa đã thủy phi lượng vừa đủ làm áo. Ngày uống 2 lần trước khi ăn trưa và trước lúc đi ngủ 15 phút, uống với nước sắc đăng tâm. Tùy theo chứng trạng và thể trạng của bệnh nhân có thể dùng bài “Hoàng liên A giao thang” hoặc bài “Chu sa an thần hoàn” để điều trị.

Do khí của tâm và đởm (túi mật) hư: Một yếu tố làm cho người ta ngủ tốt là khí của tâm và đởm tốt, làm cho con người điềm tĩnh, ban ngày làm việc tốt, ban đêm ngủ đẫy giấc. Khi khí của tâm và đởm hư suy làm cho con người yếu đuối, hay sợ hãi, đêm ngủ không yên “khi tâm và đởm yếu nên gặp việc khó hay sợ hãi, đêm nằm chiêm bao thường thấy những điều sợ hãi, khi tỉnh dậy thấy khó chịu và không ngủ lại được có khi mất ngủ cả đêm” cũng có trường hợp gặp sự việc bất thường làm hoảng sợ dẫn đến đởm khiếp, tâm khí tổn hao mà sinh chứng mất ngủ.

Triệu chứng: Do đởm khiếp, tâm hoang mang nên gặp việc hay sợ hãi, nằm ngủ hay thấy chiêm bao sợ hãi, lúc tỉnh dậy vẫn sợ hãi, mạch huyền tế.

Phép trị: Bổ tâm khí để định chí.

Bài thuốc: “An thần định chí hoàn”: Phục linh 12g, phục thần 12g, nhân sâm 8g, viễn chí 8g, thạch xương bồ 12g, long xỉ 12g, tùy chứng trạng của bệnh nhân có thể phối hợp với bài toan táo nhân thang. Ngày uống 1 thang sắc uống 3 lần trong ngày, uống trước khi ăn trưa, tối và trước khi đi ngủ.

Do tỳ vị không điều hòa: Vị (dạ dày) không điều hòa làm thức ăn và đờm hỏa tích lại, tích đầy trong bụng, gây ra chứng mất ngủ.

Triệu chứng: Đờm nhiều hay khạc ra đờm, miệng đắng, mắt mờ, buồn bực, trong vùng ngực khó chịu, đại nhân tiện không thư sướng, vùng thượng vị đầy tức do thức ăn lưu lại, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch hoạt sác.

Phép trị: Điều hòa tỳ vị, tiêu thực, hóa đờm.

Bài thuốc: Ôn đởm thang: Trúc nhự 8g, chỉ thực 8g, bán hạ (chế) 12g, quất hồng bì 12g, phục linh 12g, cam thảo 6g. Tùy chứng trạng của bệnh nhân có thể gia giảm cho thích hợp.

Cách dùng: Ngày uống 1 thang sắc uống 3 lần trong ngày, uống trước lúc ăn. Nếu thực tích quá nặng sử dụng bài Bảo hòa hoàn: Sơn tra 8g, thần khúc 12g, phục linh 12g, bán hạ (chế)10g, trần bì 12g, la bạc tử 12g, liên kiều 12g, mạch nha 12g. Ngày 1 thang sắc uống 3 lần, uống trước lúc ăn. Bài thuốc sử dụng cho cả trẻ em và người lớn.

Do suy nhược cơ thể: Sau khi ốm đã điều trị bệnh khỏi hoặc phụ nữ sau khi sinh hoặc người cao tuổi khí huyết hư yếu, tạng tâm và tỳ hư suy, tâm thần không yên sinh chứng mất ngủ.

Triệu chứng: Cơ thể gầy còm, sắc mặt trắng bợt, ăn uống kém hay có cơn mệt bất thường, giấc ngủ không sâu, nửa đêm tỉnh dậy rồi không ngủ lại được, lưỡi nhạt, mạch tế sác.

Phép trị: Bổ khí dưỡng huyết bổ tâm an thần.

Bài thuốc: Quy tỳ thang: Nhân sâm 12g, bạch truật 12g, phục thần 12g, hắc táo nhân 20g, long nhãn nhục 12g, chích hoàng kỳ 16g, đương quy 12g, viễn chí 8g, mộc hương 6g, chích cam thảo 4g, sinh khương 12g, đại táo 12g. Cách dùng: Ngày uống một thang sắc uống 3 lần trong ngày, uống trước khi ăn.

TTND.BS. Nguyễn Xuân Trung

Đông y trị đau đầu khi hành kinh

Rất nhiều chị em mỗi khi đến kỳ hành kinh hoặc trước hoặc sau kỳ kinh đều thấy đau đầu, đó gọi là chứng bệnh đau đầu khi hành kinh. Cơ lý phát bệnh của nó là khí huyết không đủ, tinh khí hư suy thiếu hụt, hoặc khí trệ đàm che, thanh khí mất dinh dưỡng. Chứng bệnh đau đầu khi hành kinh thường thấy trên lâm sàng có 4 nguyên nhân: do huyết hư mất dinh dưỡng, do can dương lên quá cao, do đàm thấp tích tụ, do huyết ứ gây trở ngại tới lạc mạch.

Đau đầu khi hành kinh do huyết hư mất dinh dưỡng

Bạch truật.

Biểu hiện lâm sàng: Mỗi lúc hành kinh hoặc sau mỗi lần hành kinh thấy đau đầu chóng mặt, màu kinh huyết đỏ nhạt, lượng kinh huyết càng nhiều thì đầu càng đau. Chất lưỡi trắng nhạt, mạch tế nhược.

Phép trị: Bổ ích khí huyết, dưỡng âm trấn thống.

Bài thuốc: Xuyên khung 6g, đương quy 6g, cam thảo 6g, thiên ma 6g, thục địa 12g, bạch thược 12g, đảng sâm 12g, hoàng kỳ 12g, bạch truật 12g, phục linh 12g, cẩu khởi 9g, câu đằng 9g, diên hồ 9g, khương táo, sắc uống ngày một thang.

Đau đầu khi hành kinh do can dương lên quá cao

Biểu hiện lâm sàng: Do thận âm bất túc, can dương lên cao, mỗi lúc hành kinh thì đầu đau dữ dội như muốn vỡ tung ra, như dùi đâm, khó có thể chịu đựng nổi, có trường hợp đau quá phải lấy khăn quấn chặt đầu và trán mới cảm thấy dễ chịu đôi chút, đi đôi với đau thường có hiện tượng huyết áp lên cao, tâm phiền dễ bực tức khó chịu, phần lớn triệu chứng đó phát ra có tính quy luật hàng tháng mỗi lúc hành kinh, chất lưỡi đỏ, mạch huyền tế sác.

Phép trị: Tư âm ích huyết, nhuận can tức phong.

Bài thuốc: Thiên ma 9g, câu đằng 9g, bạch thược 9g, khởi tử 9g, xuyên khung 6g, bạch tật lê 12g, hợp hoan bì (vỏ cây dạ hợp) 12g, thủ ô 12g, xuyên ngưu tất 12g, đỗ trọng 12g, tang ký sinh 12g, sinh thạch quyết 30g, cúc hoa 12g, sắc uống ngày một thang.

Đau đầu khi hành kinh do đàm thấp tích tụ

Biểu hiện lâm sàng: Mỗi khi hành kinh, đàm thấp lên quấy nhiễu, có hiện tượng váng đầu chóng mặt, cảm thấy đầu nặng chình chịch, ngực tức khó thở, ăn uống giảm sút, miệng nhạt và thấy dính nhem nhép, rêu lưỡi trắng, mạch chậm rãi uể oải.

Phép trị: Kiện tỳ táo thấp, hóa đàm giáng nghịch.

Bài thuốc: Pháp hạ 9g, bạch truật 9g, thiên ma 9g, phục linh 9g, mạn kinh tử 9g, trần bì 3g, cam thảo nướng 6g, gừng 3 lát, táo tàu 3 quả, sắc lấy nước uống ngày một thang.

Mạn kinh tử.

Đau đầu lúc hành kinh do ứ huyết trở lạc

Biểu hiện lâm sàng: Trước lúc hành kinh và trong những ngày hành kinh bị đau đầu, đau như dùi châm, đau không tại vị trí nhất định, hành kinh không thông thoát, lượng kinh huyết ít, màu tím thâm, hoặc có kèm theo cục ứ, bụng dưới đau, lưỡi tím thâm hoặc bên lưỡi có nốt ứ, mạch huyền sáp hoặc tế sáp.

Phép trị: Khai khiếu thông lạc, hoạt huyết hóa ứ.

Bài thuốc: Xích thược 4,5g, xuyên khung 4,5g, đào nhân 9g, hồng hoa 9g, sinh khương (gừng tươi) 9g, hành già 3 củ thái nhỏ, xạ hương 0,8g, táo tàu 7 quả, sung úy tử (ích mẫu) 9g, tam thất 6g. Sắc uống ngày một thang.

Cách sắc uống: Rượu 250ml, đem sắc thuốc trước, chắt ra bát, để bã lại hòa xạ hương vào trong rượu cho vào sắc lần nữa, uống trước khi đi ngủ, xạ hương có thể nấu 3 lần để tận dụng.

Các bài thuốc dân gian đơn giản hiệu nghiệm

Bài 1: Đương quy 6g, bạch thược 6g, xuyên khung 6g, địa hoàng khô 6g, kinh giới 6g, bộ phận phong 6g, mạn kinh tử 6g, khao bản (cọng rau khao) 6g, sài hồ 6g, tất cả sắc lấy nước uống, điều trị chứng đau đầu mỗi lúc hành kinh do huyết hư, mất dinh dưỡng.

Bài 2: Hạ khô thảo 30g, thảo quyết minh 30g, sắc lấy nước uống, điều trị chứng đau đầu mỗi lúc hành kinh do can dương lên quá cao.

Bài 3: Xuyên khung 6g, xích thược 6g, ô dược 6g, sung úy tử 6g, tế tân 3g, sắc lấy nước uống, điều trị chứng đau đầu mỗi lúc hành kinh do huyết ứ trở lại.

BS. Thu Hương

Xoa xát phòng chống táo bón cho trẻ

Hoặc ở trẻ còn bú, người mẹ ăn quá nhiều chất cay nóng truyền qua sữa làm cho tỳ vị của trẻ bị tích nhiệt, gây hao tổn tân dịch cũng dễ tạo ...